Latest Entries »

Xin gửi đến các bạn gợi ý đáp án tham khảo môn Vật lí – Tốt nghiệp THPT năm 2011

Mã đề: 642

1. A

2.A

3.B

4.A

5.C

6.C

7.D

8.A

9.C

10.B

11.D

12.D

13.B

14.B

15.B

16.D

17.C

18.D

19.C

20.B

21.D

22.A

23.A

24.A

25.A

26.B

27.C

28.D

29.B

30.B

31.C

32.A

 

Phần chương trình cơ bản:

33.D

34.A

35.D

36.B

37.C

38.D

39.C

40.B

—————-

Bài làm

Viết về người nông dân và trận đói năm Ất Dậu 1945, “Vợ nhặt” là một truyện ngắn đặc sắc, độc đáo. Kim Lân viết truyện này ngay sau Cách mạng tháng tám; đầu những năm 60, tác giả viết lại, đổi thành “Vợ nhặt”.

“Vợ nhặt” kể chuyện anh cu Tràng nhà nghèo, ở xóm ngự cư, làm nghề kéo xe bò thuê, giữa trận đói nuôi thân còn khó, thế mà dám đèo bòng, dám cả gan nhặt vợ ! Kim Lân đã sáng tạo nên một tình huống “nhặt vợ” rất hấp dẫn, đồng thời vận dụng tinh tế ngôn gnữ người nhà quê, phân tích tâm lí nhân vật sắc sảo, từ bà cụ Tứ đến anh cu Tràng, vợ Tràng, nhân vật nào cũng chân thực, cảm động.

Nhân vật vợ Tràng được miêu tả bằng những nét ám ảnh, xót thương, có vai trò tô đậm tư tưởng nhân đạo của tác phẩm.

1. Trận đói đang diễn ra vô cùng khủng khiếp. Người chết đói như ngả rạ. Quạ bay vù lên như những đám mây đen trên nền trời. Đoàn người chạy đói từ những vùng Nam Định, Thái Bình đội chiếu lũ lượt như những bóng ma xanh xám, nằm ngổn ngang khắp lều chợ. Mùi gây của xác người. Thị cũng chạy đói “ngồi vêu ra” cùng mấy chị con gái nơi cửa nhà kho. Không họ tên, không rõ quê quán, tuổi tác. Chắc cha mẹ, anh chị em đã chết đói cả rồi ? Cái đói đã cướp đi của Thị tất cả. Lần đầu nghe Tràng hò “muốn ăn cơm trắng mấy giò…”, thị bị mấy cô bạn “đẩy vai”. Thị “cười như nắc nẻ”, cong cớn nói với Tràng: “Này nhà tôi ơi, nói thật hay nói khoác đấy ?”. Thị “liếc mắt cười tít” làm cho anh cu Tràng “thích lắm”. Lần sau, thị  gặp lại Tràng thì đã thay đổi hẳn. Áo quần rách tả tơi như tổ đỉa. Thị gầy sọp đi. Khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn thấy hai con mắt. Dưới chân thị là vực thẳm, là chết đói ! Thị “sưng sỉa” trách Tràng là “điêu”, “leo lẻo cái mồm hẹn xuống thế mà mất mặt !”. Thấy Tràng vỗ vào cái túi khoe “rích bố cu”, hai con mắt “trũng hoáy” của thị tức thì sáng lên. Thị “đon đả” với anh cu Tràng: “Ăn thật nhá !”. Thị  đã ăn liền một chặp bốn bát bánh đúc rồi thở, khen: “Hà, ngon !”. Cũng biết đùa, biết trêu giai như phần đông các cô gái khác, thị nói với Tràng rất lẳng lơ: “Về chị ấy thấy hụt tiền thì bỏ bố !”. Chỉ một câu nói tầm phào của Tràng “làm đếch gì có vợ…”, thế là thị theo về ngay, “thị về thật”. Khi đứng trong cái nhà “vắng teo… rúm ró” của mẹ con Tràng, thị đảo mắt nhìn xung quanh, thất vọng “cái ngực gầy lép nhô hẳn lên, nén một tiếng thở dài”.

Từ dáng điệu, cử chỉ đến cách ăn nói đối đáp, thị vừa cong cớn, vừa thô lỗ, sỗ sàng. Thị đã nhịn đói nhiều ngày. Cái đói hành hạ. Chết đói là điều cầm chắc. Thị  cần được ăn để sống. Thị cần có nơi nương tựa để khỏi chết đói. Bản chất tốt đẹp của người con gái đã bị nạn đói, cái đói khủng khiếp cướp mất đi, che lấp đi. Thị thật đáng thương ! Thị có khác gì người ăn mày nọ:

“Ăn mày là ai ? Ăn mày là ta !Đói cơm rách áo hóa ra ăn mày !”(Ca dao)

Bản chất của người con gái đói khổ không rõ họ tên này không phải là xấu. Cách kể, cách tả của Kim Lân rất đôn hậu, nhiều bao dung, thương cảm, đem đến cho ta nhiều xúc động.

2. Chỉ qua một ngày một đêm, sau khi đã thành vợ của Tràng, thành “nàng dâu mới” của bà cụ Tứ, ta thấy nhân vật này có những biểu hiện, những tình cảm tốt đẹp như bao người phụ nữ khác. Dù kề bên cái chết, cô gái này vẫn khao khát hạnh phúc, muốn được sống trong mái ấm gia đình, một mái ấm tình thương, có chồng con như những người đàn bà may mắn khác. Trước cái nhìn tò mò của bà con xóm chợ, thị “ngượng nghịu, chân nọ bước dịu cả vào chân kia”. Nghe bọn trẻ con gào lên: “Anh Tràng ơi ! Chồng vợ hài”, thị “nhíu đôi mày lại”, rồi đưa tay lên “xóc xóc lại tà áo”. Chưa gặp bà cụ Tứ, thị rất băn khoăn lo lắng “mặt bần thần”. Đứng trước mặt mẹ chồng, trông thị rất đáng thương: “cúi mặt xuống, tay vân vê tà áo đã rách bợt”. Nghe bà cụ Tứ nói: “Con ngồi xuống đây. Ngồi xuống đây cho đỡ mỏi chân”, thị “vẫn khép nép đứng nguyên chỗ cũ”. Đó là tâm trạng của một người con gái đi lấy chồng không một quả cau, một lá trầu, không cheo cưới. Tủi cho cảnh ngộ. Tủi cho duyên số. Thật đáng thương !.

Thị cũng có nhiều biểu hiện rất nữ tính “hay đáo để”. Cái “liếc mắt cười tít” lần đầu gặp Tràng. Cái phát đánh đét vào lưng Tràng với tiếng mắng yêu: “Khỉ gió”. Một lời trách nhẹ chồng: “… chuyện dai thế, đợi sốt cả ruột”. Một cái củng vào trán Tràng kèm theo câu nói yêu: “Chỉ được cái thế là nhanh. Dơ !”. Sau bao tháng ngày, chạy đói, sống vất vưởng lang thang nơi đầu đường xó chợ, cái chết đói đến dần, thị đã trở thành vợ của Tràng, dù còn nhiều thử thách lo lắng, nhưng thị đã có sự đổi đời. Niềm vui trong tối tân hôn thể hiện cảm động niềm khát khao hạnh phúc của một người phụ nữ trong đói khát hoạn nạn. Hạnh phúc muộn mằn nhưng đáng quý giá biết bao ! Ngòi bút hóm hỉnh của Kim Lân thể hiện bao trân trọng trước niềm vui hạnh phúc và sự đổi đời của vợ chồng Tràng.

3. Nhân vật vợ Tràng có nhiều thay đổi tốt đẹp. Thị dậy sớm cùng mẹ chồng quét tước, thu dọn nhà cửa sạch sẽ gọn gàng, xây đắp tổ ấm hạnh phúc. Tiếng chổi quét sân của thị “kêu sàn sạt trên mặt đất” tưởng như niềm vui đang xôn xao trong lòng thị ? Thị “lẳng lặng” đi vào bếp dọn bữa ăn sáng, Tràng cảm thấy vợ mình “hiền hậu đúng mực” rất đáng yêu. Bà cụ Tứ đã có “nàng dâu mới”, Tràng đã có vợ. Nhà thêm người, thêm bát đũa, thêm nhân lực. Thị đã đem sinh khí, thông tin mới mẻ về thời cuộc cho mẹ con Tràng. Nghe tiếng trống thúc thuế, thị nói với mẹ chồng và chồng: “Trên mạn Thái Nguyên, Bắc Giang người ta không chịu đóng thuế nữa đâu. Người ta còn phá cả kho thóc của Nhật chia cho người đói nữa đấy”. Qua đó, ta cảm thấy nhân vật vợ Tràng, “nàng dâu mới” cũng là người truyền tin cách mạng.

Vai trò nhân vật vợ Tràng trong truyện “Vợ nhặt” là một nhân chứng tố cáo, lên án tội ác tày trời của Nhật – Pháp gây ra nạn đói năm 1945 làm hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói. Nạn đói do chúng gây ra khủng khiếp đã hạ thấp nhân phẩm con người, cướp đi mọi giá trị của con người biến người con gái như một thứ đồ rẻ rúng có thể “nhặt” được !

Nhân vật vợ Tràng gầy đói xác xơ, về làm dâu bà cụ Tứ phải mặc áo quần rách như tổ đỉa, bữa cơm đầu tiên ở nhà chồng là một bữa cháo cám- hình ảnh ấy, tình tiết ấy thật đáng thương. Và đó cũng là nỗi đau, nỗi nhục của nhân dân ta trong cảnh lầm than nô lệ.

Nhân vật vợ Tràng trong truyện “Vợ nhặt” đã nói lên một sự thật ở đời. Trong đói khổ hoạn nạn, kề bên cái chết, nhân dân ta vẫn khao khát được sông ấm no hạnh phúc. Những nguời nghèo khổ đã biết dựa vào nhau, san sẻ vật chất và tình thương cho nhau để vượt qua thử thách khắc nghiệt, vươn tới ấm no hạnh phúc và sự đổi đời với niềm tin: “Ai giàu ba họ, ai khó ba đời”… Cũng như bà cụ Tứ, anh cu Tràng, nhân vật vợ Tràng đã có vai trò thể hiện tư tưởng nhân đạo của tác phẩm “Vợ nhặt”.

 

Tố Hữu tên thật là Nguyễn Kim Thành, sinh ngày 4-10-1920, quê làng Phù Lai, xả Quảng Thọ, huyện Quàng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế

Thơ của ông luôn có sức thu hút to lớn với những thế hệ người đọc qua mấy chục năm, chính là ở niềm say mê lý tưởng và tính dân tộc đậm đà trong nội dung và hỉnh thức thơ cuả ông.

Nói thơ của ông mượt mà truyền thống dân tộc, bởi lẽ, ngay từ lúc ấu thơ,tâm hồn Tố Hũu đã được vun đắp, ấp yêu trong những câu ca dao, tục ngữ của cha , những bài dân ca xứ Huế, những giọng hò tha thiết, ngọt ngào của mẹ và trong cái nôi quê hương thơ mộng đất Huế, giàu văn hóa, bản sắc dân tộc, đã hình thành nên một hồn thơ của truyền thống, của quê hương- hồn thơ Tố Hữu.

Bước vào tuổi thanh niên đúng vào những năm cao trào cách mạng, Tố Hữu nhanh chóng bị lôi cuốn vào phong trào đấu tranh, gặp gỡ may mắn và đẹp đẽ với lý tưởng cách mạng. Do đó đã dịnh hình ở Tố Hữu phẩm chất tốt đẹp của người chiến sĩ cách mạng. Vũ khí của chiến sĩ là súng, nhưng ở Tố Hữu bằng cả ngòi bút, bởi vì đối với ông thơ và cách mạng đã hòa là một, trong thơ có lý luận chính trị sắc bén , trong cách mạng có tiếng nói ân tình thủy chung của người con xứ Huế Tố Hữu .
Sống giữa quê hương luôn biến động , hồn thơ Tố Hữu được trui rèn và thường vang ứng nhạy bén, dạt dào cảm hứng trước những bước ngoặc lịch sử , nên con đường thơ cũng đồng hành, gắn bó với những giai đoạn ấy .
Vì thế ta dễ hiểu lý do Tố Hữu sáng tác bài thơ Việt Bắc, rút ra từ tập thơ cùng tên, là một đỉnh cao, một tác phẩm xuất sắc trong thời kì kháng chiến chống Pháp.Việt Bắc được sáng tác tháng 10 năm 1954 khi cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc thắng lợi, Trung ương Đảng và chính phủ quyết định rời căn cứ từ Việt Bắc về Hà Nội. Đây là lúc giao thời giữa lịch sử và lòng người.Trong không khí hân hoan của cuộc sống mới, Tố Hữu hướng tâm hồn mình vào một nỗi niềm khác. Ông tự hỏi rằng liệu trong thời đại mới, con người có dễ dàng quên đi những năm tháng chiến đấu gian khổ, vĩ đại đã qua, liệu chúng ta có dễ dàng thoả mãn bằng lòng với hiện tại mà mờ phai quần chúng đã hi sinh đổ máu.Trong lúc giao thời ấy nhưng lại nhạy cảm với tâm hồn thơ Tố Hữu, Việt Bắc xuất hiện như một tiếng nói ân tình, tha thiết của tác giả với nhân dân kháng chiến, cũng là sự ngụ ý với tất cả mọi người.
Việt Bắc, bài thơ truyền thống, hình thức gần gũi nhưng nội dung có sự tìm tòi sáng tạo của tác giả.

Cả đoạn trích liên tục với những câu thơ 6,8 trải dài nên cấu tứ gần với thể loại ca dao dân ca.Và hình thức thể hiện chỉ ca dao, dân ca mới có, dó là lối đối đáp của kẻ ở người đi, chân thành, tha thiết không kém lối dao duyên của nam nữ, của những người yêu nhau. Thêm vào đó là giọng điệu ngọt ngào tâm tình, nhạc điệu theo cấu trúc 4/4 xoáy sâu vào lòng người đọc những ân hưởng du dương cuả văn học dân tộc. Cho nên Việt Bắc rất gần gũi, dễ nhớ, dễ thuộc.Việt bắc quả là một tác phẩm mang đậm tính nghệ thuật dân tộc.

Nhưng nếu chỉ có thế thì xem ra Tố Hữu không có gì là đổi mới, sáng tạo về nghệ thuật.Nhưng khi xét cái hay của tác phẩm, ta không chỉ đơn thuần thưởng thức tác phẩm ở hình thức, cấu trúc thơ mà còn ở cái hồn, chính là nội dung tác phẩm.Với Việt Bắc, thoạt nhìn cứ tường đây là cuộc tâm tình giữa những cá thể nhưng đọc kĩ, ta phát hiện ra cái riêng tâm tình ấy đã hoá thành cái chung, một vấn đề hết sức to lớn không của riêng ai, đánh động vào không ít tâm hồn người đọc: đó chính là mối ân tình gắn bó thuỷ chung giữa chiến sĩ cách mạng và nhân dân vùng kháng chiến.

Đến đây đã thể hiện được tài năng cách mạng hoá, chính trị hoá thơ Tố Hữu.Nhưng cách mạng hoá,chính trị hoá ở đây không phải là đưa thơ vào chỗ khô khan, tuyên truyền mà với Tố Hữu đó là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa truyền thống dân tộc và tư tưởng tiến bộ , nhạy cảm.Cho nên đọc việt bắc ta cảm nhận được sự thân quen, gần gũi nhưng lại có cảm giác bừng tỉnh, mới mẻ, sâu sắc.
Đoạn trích mở đầu với cuộc chia ly thấm đẫm sự lưu luyến, thương tiếc:
Mình về mình có nhớ ta
Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng

Mình về mình có nhớ không
Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?

Tiếng ai tha thiết bên cồn
Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi

Áo chàm đưa buổi phân li
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay

Đại từ “mình-ta” được lặp đi lặp lại nhiều lần, không biết tự khi nào “mình” và “ta” đã gắn bó gắn bó gần gũi, keo sơn như vậy. “Ta”-nhân dân Việt Bắc thiết tha cất tiếng hỏi người ra đi:

Mình về mình có nhớ không?
tựa như nỗi niềm của ngưởi con gái luyến tiếc, không đành lòng chia tay người yêu. “Mình” ra đi liệu có khắc cốt ghi tâm ơn tình, ân nghĩa của “ta”.Cho nên câu hỏi có sự lắng đọng sâu sắc, từ thắm trong tâm hồn “ta” mong chờ ở mình sự chung thuỷ, nhớ thương như tình cảm của “ta” đối với “mình”.

Đáp lại sự thiết tha của người ở lại, người ra đi cũng tha thiết nên nỗi không cất thành lời.Tấm lòng luôn hướng về những kỉ niệm, sự yêu thương, gắn bó cùng thời gian, người ra đi mang bên mình một nỗi bâng khuâng, bước đi không đành, bồn chồn, không dứt khoác.
Trong giây phút này, bất kì lời nói nào cũng không tỏ hết nỗi lòng của kẻ đi người ở, chỉ biết nắm tay nhau thật chặt, truyền cho nhau cảm xúc, cảm giác, truyền cho nhau câu trả lời thầm kín để ngươì ở lại tin rằng, dù mai sau, dù có ở đâu chăng nữa, tấm lòng này vẫn chung thuỷ, sắt son hướng về nơi ân nghĩa tình người.

Đoạn trích mở đầu thật xúc động, sâu lắng, dù không có câu trả lời của người ra đi nhưng ta lại nhận ra một mạch ngầm tri âm hiện hữu. Điều đó nói lên rằng ta và mình vốn thương nhau, gắn bó như ruột thịt, không cần nói vẫn hiểu nhau.
Chỉ bằng những câu thơ đầu tiên đã thể hiện tài năng tột cùng của tác giả khi thể hiện hình thức thơ. “Mình” và “ta” , tựa như hai cá thể đang đối thoại nhưng thật ra là sự độc thoại của chính tác giả.Tố Hữu,cũng là chủ thể trữ tình, phân thân để dễ dàng bày tỏ tâm trạng, cảm xúc.Cuộc đối thoại vốn chân tình, sâu lắng như vậy chắc hẳn tấm lòng của tác giả còn da diết, không đành hơn nữa.Qua đó cho ta thấy một điều, mối tình giữa nhân dân vùng kháng chiến và chiến sĩ cách mạng trong sáng, hoà quyện, không thể tách rời.
Vẫn lời tha thiết của người ở lại, khổ hai mở ra một Việt Bắc đắng cay,sục sôi ý chí, ơn nghĩa , keo sơn:
Trong gian khổ của những năm đau thương chiến đấu, sự khắc nghiệt cuả thiên nhiên, vật chất thiếu thốn không làm lung lay ý chí con người, “mình” và “ta” đùm bọc, gắn bó, gian khó bao nhiêu thì tinh thần lên cao, quyết tâm trả thù bấy nhiêu:

Mình đi có nhớ những ngày
Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù

Mình về, có nhớ chiến khu
Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai?

Một tấm lòng, một ý chí, “ta” và “mình” đã cùng vượt qua bao khổ đau để đến với một niềm tin vào ngày mai, tấm lòng ấy đậm đà, toả sánh như ánh nắng chiếu sáng những âm u, của “những mây cùng mù”, của những “hắt hiu lau xám”

Mình đi,có nhớ những nhà
Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son

Tiểu đối “hắt hiu lau xám” với “đậm đà lòng son” làm cho câu bát có cấu trúc đẹp , hài hoà khiến cho màu son của tấm lòng Việt Bắc như càng hắt sáng lên trên nền lau xám nghèo khó,mang đến sự xao xuyến mãi.

Những cấu trúc câu 4/4 liên tục rõ ràng, mạch lạc, mang đến nhạc điệu êm ả, khiến cho câu thơ như một bài hát ,của sức mạnh, sự nhắc nhở và niềm tin.
Qua bao câu hỏi thiết tha của người ở lại, giờ đây người ra đi mới cất tiếng, khẳng định một tấm lòng trước sau như một:
Ta với mình, mình với ta
Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh

Mình đi, mình lại nhớ mình
Nguồn bao nhiêu nước ,

nghĩa tình bấy nhiêu
Đọng trong tâm trí người ra đi là ánh trăng, là nắng chiều:
Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương

Là từng bản khói bên bếp lửa thân quen, nhớ từng củ sắn lùi, những bữa ăn đạm bạc nhưng ấm cúng:
Sớm khuya bếp lửa người thương đi về

Thương nhau , chia củ sắn lùi
Bát cơm sẻ nữa, chăn sui đắp cùng

Và từng rừng tre nứa bao bọc, che chở chiến sĩ trước quân thù

Hay cảm động xót xa trước hình ảnh người mẹ địu con trên đồng nắng gắt bẻ từng bắp ngô:

Nhớ người mẹ nắng cháy lưn
Địu con lên rẫy, bẻ từng bắp ngô

Ôi, bao nhiêu gian khổ, nhưng những đắng cay ấy lại làm nên một tinh thần đoàn kết, cứng rắn, luôn yêu đời :

Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo

Bây giờ xa rồi, tưởng chừng như tâm hồn mình đứng lại, chợt lắng nghe hay là tưởng tượng, âm thanh cuả tiếng mõ, tiếng cối đều đều, cứ chạm sâu vào tâm can, như gọi người ra đi trở lại:
Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều
Chày đêm nện cối đều đều suối xa

Bởi vậy mới biết tấm chân tình của chiến sĩ và nhân dân Việt nam sấu sắc đến nhường nào.

Nếu khổ thơ trên chỉ là đơn thuần nhớ về con ngưòi vùng Việt Bắc thì khổ thơ sau đây thể hiện chiều sâu vượt bậc của Tố Hữu khi nâng cao giá trị của con người, cùng với thiên nhiên đã làm nên một vẻ đẹp lung linh của vạn vật nơi này:
Ta về, ta nhớ những hoa cùng người

Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng

Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang

Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình

Rừng thu trăng rọi hòa bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung

Tố Hữu ví người như hoa, cũng phải, bởi “người ta là hoa đất”, đó là những người dân lao động cần cù, trẻ, khẻo,tinh thần cao. Nhưng nếu chỉ có vậy thì không hết được dụng ý của tác giả. Tố Hữu đã mở bừng ra một bức tranh thiên nhiên Việt Bắc tươi sáng, với bốn mùa xuân, hạ, thu ,đông, đó là một bức tứ bình đạt tới độ hài hào, cân xứng: muà đông rực màu đỏ hoa chuối giữa nền rừng xanh mênh mông; muà xuân tinh khiết bởi màu trắng hoa mơ;muà hè rực lên sắc vàng rừng phách; mùa thu huyền ảo ánh trăng soi. Trình độ miêu tả thiên nhiên của Tố Hữu đã đạt đến trỉnh độ điêu luyện và có thể sánh với vẻ đẹp cổ điển trong Truyện Kiều của Nguyễn Du.
Ở đây còn có sự sáng tạo ngôn ngữ độc đáo:

Ve kêu rừng phách đổ vàng
Âm thanh đánh vào thính giác vậy mà mắt như thấy được sắc vàng loan cả khu rừng.Tiếng ve, một âm thanh tiêu biểu, vô tình thôi nhưng khi cất lên đã đánh thức, làm bừng tỉnh vạn vật.Nghe mà như thấy, Tố Hữu đã thực sự hoà quyện mình vào từng con suối dòng sông nơi đây.Chỉ có ai có sự gắn bó tha thiết, sâu sắc mới có khả năng này.

Thiên nhiên này càng đẹp bởi có hoa, có người. Thiên nhiên và con người đan cài làm nên sự duy nhất, vĩnh cửu của Việt Bắc nơi đây. Đó chính là dụng ý của tác giả khi cứ một câu thơ tả cảnh lại xen một câu thơ tả người, mang đến cho bài thơ nét trữ tình, ngọt ngào.

Nhớ về Việt Bắc là nhớ cảnh, nhớ người, nhưng quan trọng nhất là nhớ về kháng chiến – một Việt Bắc kháng chiến thật hào hùng. Vẻ độc đáo của một Việt Bắc đứng lên là hình ảnh cả núi rừng đánh giặc:

Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây

Núi giăng thành lũy sắt dày
Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù.

Mênh mông bốn mặt sương mù

Đất trời ta cả chiến khu một lòng.

Chữ “rừng” rải kín những câu thơ, rải kín đất Việt Bắc, tạo thế hiểm của trường thành lũy thép vây bọc quân thù.

Nhưng ở Việt Bắc, đẹp nhất là hình ảnh toàn dân kháng chiến. Thực tiễn cách mạng lúc này đòi hỏi phải miêu tả khí thế của đám đông trên nền không gian lớn, do vậy cái bút pháp thủ thỉ “mình – ta” kia phải nhanh chóng vươn tới hình thức tráng ca:
Quân đi điệp điệp trùng trùng
Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan

Dân công đỏ đuốc từng đoàn
Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay

Nghìn đêm thăm thẳm sương dày

Đèn pha bật sáng như ngày mai lên

Từ tiết tấu ngân nga dìu dặt như lời ru ở những đoạn thơ trên

Nhớ gì/ như nhớ / người yêu
Trăng lên đầu núi/ nắng chiều lưng nương,

đến đây tác giả phá vỡ tính cân xứng để tạo ra một tiết tấu khác, phi đối xứng
Quân đi / điệp điệp trùng trùng…
Dân công / đỏ đuốc từng đoàn…
Nghìn đêm / thăm thẳm sương dày…

Làm giọng thơ trở nên gắt, mạnh, dồn dập như âm hưởng bước hành quân vũ bão. Hệ thống từ vựng mở căng cường độ diễn tả: nát đá, thăm thẳm, bật sáng…, hình ảnh kì vĩ ( hình ảnh bộ đội, dân công nườm nượp những nẻo đường kháng chiến ), ý thơ mở ra một tương lai tươi sáng:
Đèn pha bật sáng như ngày mai lên…
Tất cả tạo một bức tranh sử thi hoành tráng để ca ngợi sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước, của nhân dân anh hùng.

Ở khổ thơ cuối đoạn trích, hình thức hỏi – đáp đã trở nên hết sức tinh tế và sâu sắc:
Ở đâu u ám quân thù
Nhìn lên Việt Bắc : Cụ Hồ sáng soi

Ở đâu đau đớn giống nòi
Trông về Việt Bắc mà nuôi chí bền

Màu sắc trữ tình đã chuyển sang lí trí trong những câu thơ mang dáng vẻ của chân lí, châm ngôn. Việt Bắc thành đầu mối quy tụ tư tưởng, tình cảm của cả dân tộc, là điểm chốt lại bài thơ. Việt Bắc trở thành biểu tượng chung cho sức mạnh kháng chiến, cho linh hồn cách mạng, cho ý chí toàn dân. Việt Bắc bình dị thành Việt Bắc thiêng liêng.
Thơ ca cách mạng đã tìm được vẻ đẹp của mình trong thành công của bài thơ Việt Bắc. Tiếng thơ trữ tình chính trị của Tố Hữu với hình thức cấu tứ đậm tính dân tộc, do vậy giọng lục bát điêu luyện, ngọt ngào của thơ Tố Hữu vừa nói được những vấn đề rất lớn của thời đại mới, vừa chạm được vào chỗ thẳm sâu trong truyền thống ân nghĩa thủy chung của tâm hồn con người Việt Nam.

 

-Biển Đông rộng và chứa một lượng nước lớn là nguồn dự trữ ẩm dồi dào làm cho độ ẩm tương đối trên 80%.

-Các luồng gió hướng đông nam từ biển thổi vào làm giảm tính lục địa ở các vùng cực tây đất nước.

-Biển Đông làm biến tính các khối khí đi qua biển vào nước ta, làm giảm tính chất khắc nghiệt của thời tiết lạnh khô vào mùa đông; làm dịu bớt thời tiết nóng bức vào mùa hè.
-Nhờ có Biển Đông nên khí hậu nước ta mang tính hải dương điều hoà, lượng mưa nhiều.

-Tạo nên địa hình ven biển rất đa dạng, đặc trưng địa hình vùng biển nhiệt đới ẩm với tác động của quá trình xâm thực-bồi tụ diễn ra mạnh mẽ.

-Phổ biến là các dạng địa hình: vịnh cửa sông, bờ biển mài mòn, các tam giác châu với bãi triều rộng lớn, các bãi cát phẳng, các đảo ven bờ và những rạn san hô…

-Biển Đông mang lại lượng mưa lớn cho nước ta, đó là điều kiện thuận lợi cho rừng phát triển xanh tốt quanh năm.

-Các hệ sinh thái vùng ven biển rất đa dạng và giàu có: hệ sinh thái rừng ngập mặn có diện tích 450.000 ha, lớn thứ 2 trên thế giới. Ngoài ra còn có hệ sinh thái trên đất phèn, hệ sinh thái rừng trên đảo…

=> có nhiều giá trị về kinh tế biển như xây dựng cảng biển, khai thác – nuôi trồng thủy hải sản, du lịch biển – đảo

– Gđoạn tiền Cambri là gđoạn nền móng ban đầu cho lãnh thổ với những đặc điểm:

+ Là giai đoạn cổ nhất và kéo dài nhất trong lịch sử hình thành và phát triển lãnh thổ của VN (kéo dài khoảng 2 tỉ năm, kết thúc cách đây 542 triệu năm)

+ Chỉ diễn ra trong một phạm vi hệp trên phần lãnh thổ nước ta hiện nay: tập trung ở khu vực núi cao Hoàng Liên Sơn và Trung Trung Bộ.

+ Các điều kiện cổ địa lí còn rất sơ khai và đơn điệu: xuất hiện thạch quyển, lớp khí quyển còn rấ mỏng; khi nhiệt độ không khí thấp dần xuất hiện thủy quyển, từ đó sự sống xuất hiện song các sinh vật còn ở dạng sơ khai nguyên thủy như tảo, động vật thân mềm.

Rừng xà nu được viết ra vào giữa năm 1965, trong những ngày bắt đầu cuộc chiến tranh cục bộ của Mĩ ở miền Nam nước ta. “Đó là những ngày sôi sục, nghiêm trang, nghiêm trọng, lo lắng, quyết liệt, hào hứng, hào hùng: dân tộc ta bước vào cuộc chạm trán mất còn trực tiếp với đế quốc Mĩ”. Tuy kể về những sự kiện xảy ra trước đó mấy năm nhưng truyện ngắn này đã tiếp được hơi thở hào hùng của thời hiện tại, và hiện thực được mô tả mang đậm ý nghĩa phổ quát. Chuyện làng Xô Man trở thành chuyện của cả “Đất nước đứng lên” trong cuộc đối đầu lịch sử.

Hình tượng lớn lao bao trùm toàn bộ tác phẩm là hình tượng những cây xà nu. Chính nó đã đem lại cho tác phẩm sức khái quát lớn cũng như sự sinh động, chân thực như cuộc đời. Và trước hết nó khơi lên nguồn cảm hứng dạt dào ở người viết, trở thành điểm tựa điểm gợi tứ để nhà văn suy ngẫm về mạch sống của đất nước và sức sống của nhân dân. Không phải ngẫu nhiên mà có một câu văn được lặp lại gần y nguyên đến hai lần ở phần đầu và phần kết thúc của tác phẩm: “Đứng trên đồi xà nu ấy trông ra xa đến hết tầm mắt cũng không thấy gì khác ngoài những đồi xà nu nối tiếp chân trời”. Đấy là một điệp khúc trầm hùng làm nền cho toàn bộ câu chuyện. Tác giả chưa bao giờ để gián đoạn mạch kể về rừng xà nu. Cây xà nu khi thì tách ra, khi thì hòa nhập với con người. Tả cây xà nu tác giả ưa dùng thủ pháp nhân hóa, còn khi là con người ông lại thường xuyên liên hệ, so sánh với cây xà nu. “Xà nu”, “xà nu” – tác phẩm trùng trùng điệp điệp với những “xà nu” và đó chính là điểm khá cơ bản quy định chất thơ hào hùng của nó (thơ, như có người nhận xét, là một kết cấu trùng điệp đầy âm vang).

Hãy trở lại với đoạn mở đầu của truyện ngắn. Nhà văn đã đem hết bút lực của mình ra để tả một khu rừng xà nu. Đấy không phải là một khu rừng xà nu chung chung mà là khu rừng xát cạnh làng Xô Man, kế bên con nước lớn (nguồn sống của con người) và lọt trong tầm đại bác của đồn giặc. Ngay từ đầu ta đã thấy rừng xà nu phải đối diện với những thử thách ác liệt, dữ dội. Thương tích là không thể tránh khỏi: “Cả rừng xà nu hàng vạn cây không có cây nào không bị thương. Có những cây bị chặt đứt ngang nửa thân mình, đổ ngang như một trận bão”. Nhưng sức sống mãnh liệt của cây xà nu mới là điều tác giả muốn nhấn mạnh: “Trong rừng ít có loại cây sinh sôi nẩy nở khỏe như vậy. Cạnh một cây mới ngã gục đã có bốn năm cây con mọc lên, ngọn xanh rờn, hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời”. Chúng khỏe vì chúng tha thiết với mặt trời: “Nó phóng lên rất nhanh để tiếp lấy ánh nắng, thứ ánh nắng trong rừng rọi trên cao xuống từng luồng lớn thẳng tấp, lóng lánh vô số hạt bụi vàng từ nhựa cây bay ra, thơm mỡ màng”. Thật là một đoạn miêu tả sống động, giàu chất tạo hình nhưng không chỉ có ý nghĩa tả thực. Rừng xà nu, đấy chính là một ẩn dụ về con người: con người đau khổ, con người bất khuất, con người khát khao tự do, con người của truyền thống anh hùng lớp trước lớp sau liên tục đứng lên bảo vệ phẩm giá của mình … Thêm nữa, rừng xà nu ở đây còn là một hình tượng tượng trưng, một biểu tượng cho con người Tây Nguyên, cho cả một dân tộc hiệp sĩ : “rừng xà nu ưỡn tấm ngực lớn của mình ra, che chở cho làng”. Trong hành động ưỡn tấm ngực lớn chứa đựng biết bao nhiêu là kiêu hãnh, nó biểu thị một phẩm chất phóng khoáng, hào hiệp và là một hành động tự nguyện do xác định được đúng vị trí đứng đầu bão táp của mình. Để diễn tả một nội dung phong phú như vậy qua hình tượng cây xà nu, tác giả đã sử dụng một giọng văn thiết tha pha chút cường điệu. Nhiều lúc như không nén nổi những xúc động đang tràn ngập vì yêu thương, vì yêu thương và cả kính trọng nữa, nhà văn đã thốt lên những lời nhận xét trực tiếp, để lộ cái tôi của mình “Trong rừng ít có loại cây sinh sôi nẩy nở khoẻ như vậy”, “Cũng ít có loại cây ham ánh sáng mặt trời đến thế”. Hàng loạt động từ, trạng từ gây cảm giác mạnh được huy động cho mục đích miêu tả: ào ào, ứa, tràn trề, ngào ngạt, long lanh, gay gắt, bầm, ngã gục, lao thẳng, phóng, vượt, ưỡn .v.v. Đặc biệt, tác giả đã sử dụng rất đắt cái nhìn của điện ảnh để cho sự vật hiện lên độngnét hơn. Ống kính của ông khi thì lùi ra xa để ghi lấy toàn cảnh rừng xà nu, khi lại rà sát, soi kỹ dáng vươn lên kiêu dũng của những cây xà nu con. Có lúc tác giả quay chếch ống kính để trước mắt ta, màn ảnh như chao đảo: một cảnh tượng tuyệt vời nên thơ, tráng lệ hiện ra: “ánh nắng trong rừng rọi từ trên cao xuống từng luồng lớn thẳng tắp …”.

Mạch cảm xúc đã được khơi lên. Hướng đi của ngòi bút đã được hình dung. Điểm “neo” những ấn tượng và quan sát phong phú đã được xác định với một cái làng cụ thể. Từ đây toàn bộ câu chuyện cứ thế mà tuôn chảy và hiện rõ trước mắt người viết, người đọc mồn một từng chi tiết từng hình ảnh.

Chuyện làng Xô Man được bắt đầu từ thời điểm hiện tại: “Ba năm đi lực lượng bữa nay Tnú mới có dịp ghé về thăm làng. Thằng bé Heng gặp ở con nước lớn dẫn anh về” đấy là những lời kể cô đúc hé lộ một lịch sử và báo hiệu một đổi thay. Quả thực làng Xô Man đã đổi thay nhiều lắm so với ngày Tnú ra đi. Khắp núi rừng đâu cũng có cạm bẫy chờ sẵn “chờ đón” quân thù. Một lớp người mới trưởng thành đứng ra gánh vác công việc kháng chiến. Sinh hoạt trong một làn vui tươi và có quy củ. Tất cả toát lên một vẻ hồ hởi tự tin khiến cho Tnú không khỏi có chút ngỡ ngàng. Phải nói rằng sự lựa chọn thời điểm bắt đầu câu chuyện hết sức thích hợp. Tất cả phải từ hôm nay và cho hôm nay, cũng y như mục đích kể chuyện tại nhà Ưng của cụ Mết. Đó là sự chuẩn bị tinh thần để bước vào một thử thách to lớn mới. Những lời nhắc nhở trầm vang như tiếng chiêng, cồng của cụ Mết: “Người Strá ai có cái tai, ai có cái bụng thương núi, thương nước, hãy lắng mà nghe, mà nhớ …” cũng chính là lời nhắn gửi của độc giả, trước hết là độc giả của thời kỳ lịch sử ấy.

Ra đời trong một thời điểm hào hùng của lịch sử, lại kể về những sự việc có tầm vóc thời đại, giọng điệu trần thuật có màu sắc anh hùng ca đã được sử dụng rất đắc địa. Lời kể của tác giả đã hoà lẫn với lời kể của cụ Mết và dòng hồi tưởng của Tnú một cách hết sức tự nhiên. Cái bi tráng của một giai đoạn cách mạng cùng khí thế chiến đấu bừng bừng của buôn làng Tây Nguyên ngày nổi dậy đã được tái hiện với đúng “chất” của nó. Trên dài đất cao nguyên hùng vĩ này từng có người dân sống nghẹt thở dưới ách áp bức, khủng bố bạo tàn của Mĩ Diệm.

Khắp nơi đều có dấu vết tội ác của chúng. Thiên nhiên bị tàn phá. Nhân dân bị chém giết. Chúng “đi trong rừng xà nu như con beo” với những “lưỡi lê dính máu”. Quả là chúng đang làm chủ cả núi rừng, nhưng là cách làm chủ của beo sói. Khi kể chuyện Tnú hồi nhỏ đi liên lạc bị giặc bắt, có đến ba lần tác giả nói đến vết dao trên lưng em. Đó là một chi tiết nghệ thuật tiêu biểu tố cáo tội ác man rợ của kẻ thù. Ngay tấm lưng nhỏ bé, non trẻ “rộng chưa bằng bề ngang của cái xà lét mẹ để lại” dường như sinh ra để cha mẹ vuốt ve cũng phải hứng chịu những sự vùi dập tàn bạo, phũ phàng nhất. Ở một đoạn khác, khi nói đến tình thế bị o ép dữ dội của dân làng Xô Man trước ngày khởi nghĩa, tác giả đã có dụng ý mô tả môt loạt âm thanh kinh khủng, đó là tiếng cười sằng sặc, giần giật của thằng Dục ác ôn, tiếng roi vun vút, tiếng gậy sắt nện hừ hự xuống thân người …

Nhưng sự việc đã diễn ra theo đúng quy luật có áp bức có đấu tranh, và một chân lí cách mạng dần dần được làm sáng tỏ: “chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo”. Rừng xà nu không chỉ chuyện làng Xô Man trong đau thương mà chủ yếu là chuyện làng Xô Man đứng dậy. Tác giả đã rất thành công khi xây dựng chân dung một tập thể anh hùng. Họ gồm những cụ Mết, anh Tnú, chị Mai, cô Dít, bé Heng … mỗi người mỗi vẻ nhưng đều giống nhau ở sự gan góc, ở lòng trung thành với cách mạng. Sự gan góc, trung thành ấy không biểu hiện ồn ào. Nó ít lời mà dồn nén biết bao dữ dội. Tnú bị bắt, cụ Mết chỉ nói: “Tnú đừng làm xấu hổ làng Xô Man”. Tnú trả lời bằng bằng một cái nhìn. Giặc cởi trói cho Tnú để em chỉ chỗ người cộng sản, Tnú để bàn tay lên bụng mình nói “Ở đây này”. Rồi đôi mắt của Mai, cái nhìn của Dít .. rõ ràng đó là cái im lặng của những người đã chịu nhiều đau khổ, cái im lặng đầy sức mạnh, đầy đe dọa với quân thù, nó báo trước sự bùng nổ ghê gớm của lòng căm giận. Trong tác phẩm còn có một đoạn rất đáng chú ý khác nói về sự dũng cảm của Dít trước quân ác thú. Có thể nói trong khoảnh khắc, Dít đã lớn rất nhiều, thoạt đầu Dít khóc thét lên khi bị chúng bắn dọa. Nhưng đến viên đạn thứ mười, Dít đã chùi nước mắt, bình thản nhìn về bọn giặc. Đây là một chi tiết giàu tính tượng trưng. Không thể nói sự thay đổi đó của Dít như nói về một sự trấn tĩnh bình thường. Trong tình thế khó khăn con người phải tự lớn vượt lên mau chóng nếu không sẽ bị đè bẹp. Dềnh dàng là chết. Điều đó đúng với cả làng Xô Man, cả Tây Nguyên và cả cách mạng miền Nam ngày ấy.

Trong nhiều nguyên nhân tạo nên sức quật khởi của làng Xô Man mà tác giả có ý thức nêu lên, nguyên nhân thuộc về truyền thống lịch sử đã được biểu hiện qua một hình tượng sinh động: cụ Mết. Đúng là tác giả viết trong một bài hồi ức: “Ông là cội nguồn. Là Tây Nguyên của thời Đất nước đứng lên còn trường tồn đến hôm nay. Ông như lịch sử bao trùm, nhưng không che lấp sự đi tới nối tiếp và mãnh liệt, ngày càng mãnh liệt hơn sành sỏi và tự giác hơn của thế hệ sau”. Để tả cụ Mết tác giả thường mượn những đặc tính của cây xà nu làm đối tượng so sánh: ngực cụ “căng như một cây xà nu lớn”, còn bàn tay “nặng như sắt” của cụ thì “sần sùi như vỏ cây xà nu” tiếng nói của cụ cũng thật đặc biệt: “nặng trịch”, “ồ ồ” “dội vang trong lồng ngực” tưởng như tiếng âm vọng của núi rừng. Đúng là không thể hình dung nổi cuộc sống chiến đấu của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên mà lại thiếu hình ảnh cụ Mết. Riêng đối với phương diện hình thức nghệ thuật của tác phẩm, hình ảnh đó tạo nên màu sắc Tây Nguyên đậm đà trên từng trang viết và tạo những điểm nhấn góp phần bộc lộ sâu sắc chủ đề, những điểm nhấn gắn liền với các câu nói mang ý nghĩa tông kết, giáo dục và kêu gọi của cụ: “Nghe rõ chưa, các con rõ chưa. Nhớ lấy, ghi lấy. Sau này tau chết rồi, bây còn sống phải nói lại cho con cháu: chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo! …” có thể nói thêm: nếu thiếu hình ảnh cụ Mết, tác phẩm sẽ thiếu đi một cơ sở quan trọng để sử dụng cái giọng trầm hùng vang vọng rất sử thi như nó đã có.

Nhiều đêm bên bếp lửa trong nhà ưng, cụ Mết đã kể cho con cháu nghe chuyện về anh Tnú. Đó là câu chuyện của thời hiện tại nhưng đã được lịch sử hoá bởi nó quá tiêu biểu cho hành trình số phận của các dân tộc Tây Nguyên thời đánh Mĩ. Cuộc đời của Tnú đã trải qua biết bao thử thách khốc liệt ngay từ  thuở còn thơ. Chính những thử thách ấy đã hun đúc nên một con người mang nhiều phẩm chất tốt đẹp: gan dạ, trung thưc, một lòng một dạ gắn bó với cách mạng. Khi lớn lên, hạnh phúc riêng vừa đánh chết ngay trước mắt anh mà anh không làm gì được. Bản thân anh bị giặc bắt và bị chúng đốt cụt mười đầu ngón tay. Từ nỗi đau thương và căm thù đó, anh tham gia lực lượng quân giải phóng góp phần bảo vệ quê hương, trở thành niềm tự hào của buôn làng, thánh tấm gương cho cụ Mết dùng để giáo dục thế hệ sau. Khắc hoạ nhân vật Tnú, tác giả rất chú ý miêu tả hai bàn tay của anh – hai bàn tay biết kể với chúng ta về số phận một con người. Nhìn chung, với nhân vật Tnú cũng như với hầu hết các nhân vật khác, tác giả thường nhắc đi nhắc lại một đặc điểm nỗi bật nào đó của họ. Phải chăng ở đây có dấu vết của cách giới thiệu nhân vật trong sử thi? Dù sao đây cũng là một trong những đặc điểm hình thức khá nổi bật của truyện ngắn này.

Rừng xà nu là trải nghiệm một đời văn, một đời chiến sĩ được nhốt chặt trong một khuôn khổ hẹp. Niềm xúc động thiêng liêng về hình ảnh kì vĩ của tổ quốc giữa những ngày thử thách đã thôi thúc Nguyễn Trung Thành viết nên thiên truyện này. Đó là một tác phẩm rất cô đọng nhưng cũng hết sức bay bổng, gợi nên những cảm xúc vừa trầm lắng vừa say mê. Một tác phẩm xuất sắc khá xứng tầm với thời đại đánh Mĩ oanh liệt, hào hùng.

Trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa của nhà văn Nguyễn Minh Châu, nhân vật để lại ấn tượng sâu sắc nhất cho người đọc là người đàn bà làng chài – người phụ nữ vô danh với tấm lòng bao dung, vị tha, đức hi sinh cao thượng mà khiến khi gấp trang sách lại ta không thể nào quên.

 

Để tạo nên hình tượng người đàn bà ấy nhà văn đã tạo ra tình huống truyện độc đáo và từ tình huống độc đáo này mà nhân vật dần hé lộ số phận: Truyện được kể lại qua lời của nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng, một người lính vừa bước ra từ cuộc chiến tranh nhiều đau thương mất mát. Phùng được dịp trở về chiến trường xưa để chụp một bức tranh cảnh biển theo lời đề nghị của trưởng phòng. Tại đây anh đã phát hiện ra một bức tranh cảnh biển có một không hai: “Trước mặt tôi là một bức tranh mực tầu của một danh họa thời cổ. Mũi thuyền in một nét mơ hồ lòe nhòe vào bầu sương mù trắng như sữa có pha đôi chút màu hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào. Vài bóng người lớn lẫn trẻ con ngồi im phăng phắc như tượng trên chiếc mui khum khum, đang hướng mặt vào bờ”. Cảnh đẹp đến nỗi Phùng có cảm giác bối rối, trái tim như bị bóp thắt vào. Nhưng đằng sau chiếc thuyền đẹp như trong mơ ấy lại là một cảnh tượng phũ phàng: người chồng vũ phu, thô bạo hành hạ người đàn bà bằng những trận đòn thù, người đàn bà nhẫn nhục chịu đựng. Phùng từ sung sướng đến ngạc nhiên, sững sờ sửng sốt. Nghịch cảnh ấy khiến lòng anh tan vỡ. Xuyên suốt toàn bộ câu chuyện, hầu như người đọc không hề được biết đến tên gọi của người đàn bà tội nghiệp ấy, NMC đã gọi một cách phiếm định: khi thì gọi là người đàn bà hàng chài, lúc lại gọi mụ, khi thì gọi chị ta…. Không phải nhà văn “nghèo” ngôn ngữ đến độ không thể đặt cho chị một cái tên mà là vì Chị cũng giống như hàng trăm người đàn bà ở vùng biển nhỏ bé này: CHỊ LÀ NGƯỜI VÔ DANH.

 

Lần đầu chị xuất hiện: Người đàn bà trạc ngoài bốn mươi, một thân hình quen thuộc của đàn bà vùng biển, cao lớn với những đường nét thô kệch. Mụ rỗ mặt. Khuôn mặt mệt mỏi sau một đêm thức trắng kéo lưới, tái ngắt và dường như đang buồn ngủ. Chị bị chồng hành hạ một cách tàn nhẫn: Lão đàn ông lập tức trở lên hùng hổ, mặt đỏ gay, lão rút trong người ra một chiếc thắt lưng của lính ngụy ngày xưa, có vẻ như những điều phải nói với nhau họ đã nói hết, chẳng nói chẳng rằng lão trút cơn giận như lửa cháy bằng cách dùng chiếc thắt lưng quật tới tấp vào lưng người đàn bà, lão vừa đánh vừa thở hồng hộc, hai hàm răng nghiến ken két, cứ mỗi nhát quất xuống lão lại nguyền rủa bằng cái giọng rên rỉ đau đớn: “Mày chết đi cho ông nhờ. Chúng mày chết hết đi cho ông nhờ!”. Kì lạ thay chị vẫn lặng im chịu đựng, vẫn lặng yên như một sự cam chịu ”Người đàn bà với một vẻ cam chịu đầy nhẫn nhục không hề kêu một tiếng, không chống trả, cũng không tìm cách trốn chạy”.

 

Chị là ai ?

 

+ Trước đây Chị vốn là con của một gia đình khá giả nhưng số phận đã không may mắn với chị. Chị mắc bệnh đậu mùa. Di chứng để lại đó là Cái xấu, cái xấu xí thô kệch đã đeo đuổi chị như một định mệnh, suốt từ khi còn nhỏ cho đến tận bây giờ.

+ Vì xấu xí không ai lấy nên chị trót có mang với một anh hàng chài nhà ở giữa phá vẫn hay đến nhà chị mua bả về đan lưới. Thế rồi thành vợ thành chồng. Chị xuống ở luôn dưới thuyền. Cuộc sống mưu sinh trên biển cực nhọc, vất vả, lam lũ, bấp bênh: “có nhiều tháng biển động phải ăn cây xương rồng luộc chấm muối”. Gia đình nghèo lại còn đông con, thuyền thì chật,…

+ Vì túng quẫn, đói nghèo, thất học, lạc hậu. Lão chồng của chị từ một anh con trai “hiền lành nhưng cục tính” đã trở thành một kẻ vũ phu lỗ mãng. Hắn đã lấy phương pháp đánh vợ để giải tỏa những bế tắc cuộc sống. Bị chồng thường xuyên đánh đập, hành hạ: ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng. Cứ khi nào lão thấy khổ quá là lại xách chị ra đánh, như là để trút giận, như đánh 1 con thú, với lời lẽ cay độc” Mày chết đi cho ông nhờ, chúng mày chết hết đi cho ông nhờ”. “Mày” ở đây là vợ ông ta. “Chúng mày” là vợ con của ông ta. Họ là những đồng loại rất gần gũi với ông ta. Cay đắng thay cho số phận của chị.

 

+ Khi bị đánh chị không hề kêu một tiếng, không chống trả, không tìm cách chạy trốn mà coi đó là một lẽ đương nhiên. Thậm chí chị còn yêu cầu hắn “ Muốn đánh chị thì đưa chị lên bờ để đánh vì chị không muốn để những đứa con nhìn thấy cảnh bố hành hạ mẹ”. – Vì đâu chị lại chịu đựng và cam chịu như vậy ?

 

+ Chị coi việc mình bị đánh đó như 1 phần đã rất quen thuộc của cuộc đời mình, chị chấp nhận, không kêu van, không trốn chạy. Vì chị rất thấu hiểu lẽ đời. Chị hiểu cơ cực của cuộc sống mưu sinh trên biển không có người đàn ông. trong cuộc mưu sinh đầy cam go: thuyền ở xa biển, cần một người đàn ông khỏe mạnh, biết nghề “Mong các chú cách mạng thông cảm cho, đám đàn bà hàng chài ở thuyền chúng tôi cần phải có người đàn ông để chèo chống phong ba, để cùng làm ăn nuôi nấng đặng một sắp con, nhà nào cũng trên dưới chục đứa. Ông trời sinh ra người đàn bà là để đẻ con, rồi nuôi con cho đến khi khôn lớn cho nên phải gánh lấy cái khổ. Đàn bà ở thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không thể sống cho mình như ở trên đất được!”.

 

+ Chị cũng hiểu và thông cảm cho chồng: chị thừa nhận chồng chị trước kia là anh con trai hiền lành nhưng cục tính, chẳng qua vì đói nghèo, thất học, túng quẫn lão chồng mới sinh ra vậy. Đây chính là sự hiểu đời, sự thông cảm và vị tha của chị. Chị không hề oán trách chồng mà ngược lại chị rất cảm thông và vị tha. Chị là người có đức hi sinh cao thượng.

Không chỉ vậy, nguyên nhân sâu xa của sự cam chịu chính là tình thương con vô bờ bến của chị. Tình mẫu tử của chị đã vút lên trên cái nền của 1 cuộc sống cơ cực, ngang trái, đau đớn đầy xót xa . Vì thương con chị đã luôn miệng xin quý tòa đừng bắt con bỏ nó. Chị hiểu như thế nào là nỗi đau của những trẻ thơ sống trong cảnh bố mẹ ly dị. Chị không muốn nhìn cảnh các con thấy bộ mẹ chia tay. Cũng vì thương con chị đã yêu cầu lão đàn ông vũ phu mang chị lên bờ mà đánh vì sợ con nhìn thấy. Vì thương con mà chỉ đưa thằng Phác lên bờ để sống. Vì thương con mà chị đã đau đớn nhìn cảnh thằng Phác vì thương mẹ mà đã chống trả lại bố đẻ của mình. Trong đau khổ chị vẫn luôn chắt lọc những niềm vui ví như khi nhìn các con được ăn no, được nô đùa hay có lúc chị và chồng chị cũng có những giây phút đầm ấm, hòa thuận. Đằng sau sự nhẫn nhục ấy là bản năng sinh tồn mãnh liệt và một tấm lòng yêu thương mê muội, đáng thương. Người đàn bà hàng chài vừa lam lũ, chất phác, có tình thương con vô bờ bến, vừa luôn mang nỗi đau, vừa có cái thâm trầm trong việc thấu hiểu các lẽ đời. Thấp thoáng trong người đàn bà ấy là bóng dáng của biết bao phụ nữ Việt Nam nhân hậu, bao dung, giàu lòng vị tha và đức hi sinh.

 

+ Phùng và Đẩu là hai cán bộ cách mạng vừa bước ra khỏi chiến tranh. Mới đầu các anh căng thẳng, các anh không hiểu nhưng sau đó, qua câu chuyện của người đàn bà ở tòa án, Phùng và Đẩu đã vỡ lẽ. Qua câu chuyện của người đàn bà, họ càng thấy rõ: Không thể dễ dãi, đơn giản trong việc nhìn nhận mọi sự vật, hiện tượng của cuộc sống, không thể có cái nhìn một chiều, phiến diện với con người và cuộc sống mà phải có cái nhìn đa diện, nhiều chiều, phổ quát thì mới hiểu được những sắc cạnh của cuộc đời. Vì “con người thì đa đoan, cuộc đời thì đa sự”. Đây cũng là nét mới trong văn xuôi sau năm 1975 mà NMC chính là vị “khai quốc công thần của triều đại văn học mới”.

 

Nghệ thuật: Sử dụng biện pháp đối lập (giữa hình thức và tâm hồn), đặt nhân vật trong tình huống nhận thức độc đáo, Nguyễn Minh Châu giúp người đọc khám phá “….ẩn dấu” trong “bể sâu tâm hồn” người đàn bà hàng chài.

SPECIAL GIVE TO “12A1” MEMBERS!

 

Đọc Vợ nhặt chợt tôi nao lòng nhớ đến Đám cưới nghèo của Nam Cao với những bóng đen lầm lũi đi trong màn sương nhập nhoạng. Cái đói, cái nghèo ấy sao đầy kinh hoàng và u ám đến thế. Chính cái đói, cái nghèo đó tạo nên cho Vợ nhặt một tình huống hết sức độc đáo và hấp dẫn. Ngay tựa đề của tác phẩm cũng gợi lên sự chua xót, mai mỉa, một nỗi đau không thể nói thành lời. Nhặt vợ, một hành động nghe sao đơn giản và dễ dàng đến như vậy? Điều đó hoàn toàn trái ngược với quan niệm của dân gian:

“Tậu trâu, lấy vợ, làm nhà

Trong ba việc ấy thật là khó thay”

Vậy mà ở đây Tràng đã “nhặt” được vợ hẳn hoi, trong cơn đói khủng khiếp đang hoành hành. Chính cái lạ thường, kì dị của hành động đã tạo nên một tình huống vô cùng độc đáo mang ý nghĩa chi phối toàn bộ tác phẩm. Trước khi đi vào tìm hiểu tình huống truyện trong truyện ngắn Vợ nhặt, cần hiểu được như thế nào là tình huống truyện. Tình huống truyện là diễn biến của sự việc, sự phức tạp của tình tiết, là cái éo le, nghịch lý ở đời. Sự việc, câu chuyện “xảy ra” như thế mà ta cứ ngỡ không phải là như thế. Tình huống càng lạ thì truyện ngắn càng hay, càng hấp dẫn. Đề tài viết về nông thôn, về người nông dân hoàn toàn không có gì mới mẻ, có rất nhiều nhà văn cũng đề cập tới, nhưng sở dĩ Vợ nhặt trở thành truyện ngắn xuất sắc, độc đáo là vì tình huống được xây dựng trong truyện. Tình huống ấy phải nói rất lạ. Chính cái lạ ấy tạo nên một điều mới mẻ hấp dẫn của truyện ngắn này, và tạo nên tên tuổi Kim Lân.

 

Có thể thấy rằng tình huống “nhặt vợ” là một tình đầy kịch tính xưa nay chưa từng có, lạ và éo le. Cái lạ ở chỗ người như Tràng mà lấy được vợ, thậm chí là được vợ theo không. Tràng là một chàng trai ngụ cư, vập vạp, thô kệch với cái cười “hềnh hệch” vô hồn lúc nào cũng nở trên môi. Tràng nghèo túng, xấu xí hơn cả những con người tồi tàn, bèo bọt ở cái xóm ngụ cư này. Thế mà hôm nay, bên cạnh cái lưng to rộng như lưng gấu của hắn lại có cả một người đàn bà rón rén và e thẹn. Giữa cảnh đói khát nuôi thân chưa xong mà Tràng lại dám “đèo bòng” “rước cái của nợ đời ấy về”. Chính điều đó gợi nên sự kinh ngạc cho cả xóm. Sự tò mò, xoi mói cứ lan dần theo từng bước đi của Tràng và người đàn bà trên con đường xao xác, heo hút. Mọi người cứ xầm xì  bàn tán, thỉnh thoảng lại rung rúc vang lên tiếng cười đầy ghê rợn như tiếng cú báo hiệu tai ương và chết chóc vọng mãi theo đôi uyên ương về cuối xóm. Mặc kệ những lời thầm thì, bàn tán, Tràng vẫn lầm lũi bước dưới những gốc gạo sù sì có “bóng những người đói đi lặng lẽ như những bóng ma” thay cho khách và tiếng quạ gào thê thiết từng hồi thay cho pháo cưới. Câu chuyện chìm trong nặng nề và sợ hãi, đầy những cảnh ma quái, đen tối. Tôi loáng thoáng hiện lên Chiều sương của Bùi Hiển, những câu chuyện ma quái buổi chạng vạng ở làng chài…rùng rợn, sởn gai óc. Rõ ràng cái đói đã len lỏi, đã thổi những hồi gió lạnh rợn xương mang mùi chết chóc phát tán khắp mọi nơi. Vậy mà Tràng lại có vợ “ Ôi chao! Biết có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không?”

Tình huống lấy được vợ của Tràng còn mới lạ ở chỗ chỉ qua hai lần gặp gỡ chóng vánh, tình cờ cùng mấy câu nửa đùa nửa thật, vậy mà người đàn bà đồng ý theo Tràng về. Công việc mà xưa nay người ta vẫn cho là khó lại vô cùng dễ dàng nhanh chóng đối với Tràng. Có phải do người đàn bà ấy quá dễ dãi, chỉ với bốn bát bánh đúc mà bám lấy Tràng như thế? Khi con người ta đang đứng giữa bờ vực thẳm của  sự sống và cái chết thì dù đó là một tia hi vọng mỏng manh được sống họ vẫn cố gắng bám víu, cố gắng níu giữ. Thị cũng vậy. Trong nạn đói năm 1945, người chết như “ngả rạ”, người sống “vật vờ”, lay lắt như những “bóng ma”, thị cũng không ngoại lệ “Hôm nay thị rách quá, áo quần tả tơi như tổ đĩa, thị gầy sọp hẳn đi, trên cái khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn thấy hai con mắt.” Lúc này thị quá mỏng manh, hệt cái cây khô thiếu nước sắp ngã qụy. Thị cố đưa tay ra bấu víu đời, bấu víu cuộc sống, mà nơi thị bấu víu vào lại là Tràng. Bốn bát bánh đúc nên duyên vợ chồng…chuyện hi hữu hiếm thấy xưa nay.

 

Lạ là thế, Tràng “nhặt” được vợ còn mang nhiều tình tiết éo le. Tràng lấy được vợ, hưởng hạnh phúc lớn nhất của đời người giữa cảnh “ Tối sầm lại vì đói khát”, giữa lúc cái chết và sự sống ranh giới mong manh, tưởng âm dương không còn sự cách biệt. Chen vào hạnh phúc lứa đôi là nỗi lo chạy trốn cái đói, lo níu kéo sự sống. Duyên cớ để đưa họ đến với nhau cũng thật buồn lòng: đó là cái đói. Vì thế, mấy bát bánh đúc đã thay cho trầu cau dẫn cưới. Một sự thật đáng buồn, thử hỏi nếu không có nạn đói liệu Tràng có lấy được vợ hay không? Mọi chuyện quá nhanh, đến nỗi chính Tràng- người trong cuộc cũng không khỏi ngỡ ngàng. Đưa vợ về nhà, nhìn thị ngồi giữa nhà mà Tràng vẫn cứ “ngờ ngợ như không phải thế”. Với hắn tất cả sao như một giấc chiêm bao “Ra hắn đã có vợ rồi đấy ư?” Cả Thị cũng vậy quá ư liều lĩnh đến với hắn, cái đói đẩy họ đến với nhau.

Trong cái thời tao đoạn ấy, việc Tràng lấy vợ quả là tình huống oái oăm. Nên mừng hay nên lo cho đôi vợ chồng trẻ? Tình huống éo le làm mẹ Tràng- bà cụ Tứ hết sức ngạc nhiên và ngỡ ngàng. Thái độ vồn vã khác thường của Tràng khiến bà lão “hấp háy hai con mắt nhìn Tràng” rồi băn khoăn hỏi Tràng “có việc gì thế vậy?”. Nỗi ngạc nhiên càng tăng dần khi bà lão thấy một người phụ nữ trong nhà mình, đang ngồi vân vê vạt áo xấu hổ, chào mình bằng u. Bà sững lại, hàng loạt câu hỏi hiện lên trong tâm trí bà…để rồi khi hiểu ra cơ sự, lòng bà quặn thắt, se lại vì thương con, bà “cúi đầu nín lặng” xót xa. Bà đau đớn vì chưa làm tròn bổn phận làm cha làm mẹ, đó là “người ta dựng vợ gả chồng cho con cái lúc nhà ăn nên làm nổi, những mong sinh con đẻ cái mở mày mở mặt sau này, còn mình thì…” Kim Lân miêu tả khá tài tình diễn biến độc thoại nội tâm của người mẹ thương con. Cũng như tâm trạng dằn vặt của Lão Hạc ( Nam Cao), không lo được đám cưới cho con trai. Nhưng đằng sau những bi quan, đau đớn, tủi hổ là những hi vọng, những ước mơ của bà mẹ quê, những câu chuyện vui được kể từ miệng bà cụ. nào là “ai giàu ba họ, ai khó ba đời…” sự lạc quan hiếm thấy.

Tình huống “nhặt” vợ quả thật mang nhiều nét bi hài, chỉ bằng những câu bông lơn và bốn bát bánh đúc thị theo Tràng về không điều kiện. Trong cái hoàn cảnh này thì giá trị con người thật rẻ rúng, song dưới ngòi bút tài tình của Kim Lân nó trở nên nhẹ nhàng hơn và lấp ló tình thương. Kim Lân đã đặt các nhân vật của mình vào khoảng sống mờ tối, lắt lay, nhà văn đã tìm được một cơ hội vô song để biểu hiện sự bất diệt của nỗi khát thèm được sống, được yêu thương và hi vọng. Niềm ao ước hạnh phúc không thể diệt trừ được cái đói hay sự u tối, nhưng nó cũng không bị diệt trừ. Niềm ao ước ấy cứ âm thầm vươn lên từ đói khát, tối tăm và trở nên cảm động hơn, đáng quý hơn. Không cần dùng những lời lẽ đanh thép hay “đại ngôn” nhưng tác phẩm Vợ nhặt mang đến một giá trị nhân bản to lớn. Bằng tình huống bi hài, nó xoáy vào tố cáo chế độ thực dân phát xít, nguyên nhân dẫn đến cái đói kinh hoàng. Cái đói mang đến sự chết chóc, tang thương khắp nơi và chính nó làm giá trị con người hạ xuống đến mức thấp nhất. Con người dường như mất hẳn tính người, chỉ còn sống theo bản năng để được ăn, để được sống…Con người trở nên trơ trẽn, mất nhân cách khi cái đói lởn vởn trong tâm trí. Hình ảnh người đàn bà ăn “một chặp” bốn bát bánh đúc làm người đọc liên tưởng đến bà lão trong Một bữa no của Nam Cao, cũng vì đói mà bà đã ăn rất nhiều, rất nhiều cơm, để đêm về bội thực mà chết, cái chết tức tưởi. Còn gì thê thảm hơn khi đám rước dâu có tiếng quạ kêu thê thiết đón chào, đêm tân hôn có tiếng ai khóc tỉ tê, “có mùi đốt đống rấm ở những nhà có người chết theo gió thoảng vào khét lẹt”? Thật xót xa!

Có người ví truyện ngắn hay như một thứ quả có nhiều vỏ luôn luôn làm đứa trẻ háu ăn bị nhỡ tàu, mỗi lần bóc ra một lớp vỏ người đọc thở phào thế là xong mọi chuyện chắc là không phải chờ đợi thêm gì nữa thì một lớp vỏ mới lại hiện ra. Với Vợ nhặt của Kim lân ta thấy rõ điều đó, cái đói hoành hành, người chết như rạ, những tưởng người như Tràng chỉ biết đi làm mướn nuôi mẹ già, không mong gì hơn, thế mà cuối cùng y lại “nhặt” được vợ…Nhặt được vợ rồi cuộc sống hắn có nhiều chuyển biến, thay đổi, giữa lúc đói kém hình ảnh Việt Minh phá kho thóc, hình ảnh cờ đỏ đâu đấy thoáng qua trong tâm trí Tràng. Một cuộc cách mạng chăng? Cứ hết lớp vỏ này lại xuất hiện lớp vỏ khác đầy bất ngờ, lôi cuốn người đọc.

Chỉ một tình huống tưởng chừng như tầm phào nhặt vợ mà gây bao xôn xao, làm nhức nhối trái tim đọc giả bao thế hệ. Nghệ thuật xây dựng tình huống của Kim Lân quả thực bậc thầy. Ngay từ đầu đề đã mang nhiều kịch tính hứa hẹn một tình huống mới lạ, “Vợ nhặt” là một sự bị động, không có tính toán, không có chủ đích, như một sự tình cờ. Từ mở đầu với ý nghĩa như thế câu chuyện đã được xoay quanh tình huống bi thương ấy. Tình huống truyện có khi là những gì rất nhỏ rất bình thường nhưng dưới tài năng của nhà văn điều đó trở nên ý nghĩa hẳn. Các nhà văn chuyên viết truyện ngắn rất để ý đến việc xây dựng tình huống truyện, bởi đó như một phần của chìa khóa thành công. Thật vậy, một chiếc lá thường xuân, qua mấy đêm mưa bão vẫn xanh bên kia tường, đã cứu sống một cô gái, đã giành lại sự sống từ tay tử thần. O.Henry viết rất nhẹ nhàng, nhưng đã gieo vào lòng người đọc những cảm xúc khó quên. Nhà văn xây dựng tình huống truyện xoay quanh một chiếc lá mà “không bao giờ bay lất phất khi có gió thổi”, đó là kiệt tác nghệ thuật của người họa sĩ già Behrman, “Behrman là cả một sự thất bại trong nghệ thuật. Trong bốn mươi năm ông vung vẩy chiếc cọ mà không hề chạm gần đến vạt áo của Người Tình. Ông luôn luôn muốn vẽ nên một kiệt tác, nhưng chưa bao giờ bắt đầu” lúc nào “giá vẽ với khung vải trống trơn, suốt hai mươi lăm năm vẫn chờ đợi đường nét đầu tiên của một kiệt tác.”. Và chiếc lá thường xuân “Sau trận mưa vùi dập và những cơn gió xoáy dữ tợn suốt một đêm dài, vẫn còn có màu xanh thẫm gần cuống, nhưng với phần rìa te tua pha màu vàng của sự tàn tạ, chiếc lá vẫn dũng cảm bám vào cái cành cao dăm bảy mét cách mặt đất.” như một niềm tin vào cuộc sống đã giúp cô gái đa sầu đa cảm vượt lên nỗi đau của bệnh tật, tiếp tục sống. Một tình tiết như vậy thôi, nhưng đã đưa O. Henri cùng Chiếc lá cuối cùng trở thành bất hủ. Hay như Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu, tình huống mở ra chỉ là một bức ảnh để làm lịch do cấp trên giao cho Phùng đi thực hiện tại vùng biển nọ. Sau mấy ngày phục kích cuối cùng nhiếp ảnh gia cũng chộp được những thước phim tuyệt vời, đến đây tình huống truyện mới nở bung ra. Thì ra bức tranh nghệ thuật Phùng chụp được ngoài khơi và hiện thực cuộc sống trước mắt Phùng là những điều đối lập hoàn toàn. Hiện thực trần trụi với một gã đàn ông to lớn cứ “ba ngày một trận nhỏ, năm ngày một trận lớn”, xem việc đánh vợ để giải tỏa những bực tức của mình. Tình huống truyện được tạo nên bởi nghịch cảnh giữa chiếc thuyền ngoài xa với cái thật gần là sự ngang trái trong gia đình thuyền chài. Gánh nặng mưu sinh đè trĩu trên vai cặp vợ chồng biến người chồng trở thành kẻ vũ phu. Người vợ vì thương con mà nhẫn nhịn chịu đựng sự ngược đãi của chồng mà không hề biết đã làm tổn thương tâm hồn của đứa con. Cậu bé thương mẹ, bênh vực mẹ thành ra căm ghét cha mình. Chánh án Đẩu tốt bụng nhưng lại đơn giản trong cách nghĩ. Anh khuyên người đàn bà bỏ chồng là xong, mà không biết được rằng “Đám đà bà hàng chài ở thuyền luôn cần phải có người đàn ông chèo chống khi phong ba, để cùng nuôi con. Đàn bà ở thuyền chúng tôi sống cho con chứ không phải sống cho mình”. Trong tình huống truyện này, cái nhìn và cảm nhận của nghệ sĩ Phùng cùng chánh án Đẩu là khám phá, phát hiện sâu sắc về đời sống, về con người. Như một thứ nước rửa kì diệu câu chuyện ở tòa án huyện giúp chúng ta hiểu thêm nhiều điều và rút ra bài học về cuộc sống và con người: một cái nhìn đa diện nhiều chiều, phát hiện ra bản chất sau vẻ ngoài đẹp đẽ của hiện tượng. Bên trong cảnh đẹp như mơ, là bao ngang trái, nghích lý của đời thường. Phùng thấy chiếc thuyền nghệ thuật thì còn ở ngoài xa, còn sự thật cuộc đời lại rất gần. Qua đó giúp ta hiểu thêm về bản chất, về tầm quan trọng của tình huống và cách xây dựng tình huống truyện của nhà văn. Tình huống truyện là yếu tố làm nổi bật chủ đề của tác phẩm đồng thời tạo điều kiện cho nhà văn miêu tả tâm lý nhân vật. Trở lại với Vợ nhặt, Kim Lân đã thành công khi xây dựng nên một tình huống truyện độc đáo diễn tả hết cái thê thảm của người nông dân, thể hiện sự xót xa, ai oán trước thân phận của họ. Câu chuyện mở ra vào một buổi chiều chạng vạng và khép lại trong “ánh nắng buổi sáng mùa hè sáng lóa”. Khi bắt đầu truyện ta chỉ gặp một anh Tràng bước thấp bước cao trên đường làng dưới ánh nắng mờ nhạt của một gầm trời đầy đói khát, nhưng đến lúc kết thúc Tràng đã có một mái ấm gia đình để vun xới, để cố gắng xây đắp.

Viết về nông thôn và người nông dân nghèo, ta bắt gặp không ít nhà văn như Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao…mỗi một ngòi bút là một cách viết sắc lẻm khác nhau. Nông thôn hiện lên tan tác, tiêu điều, người nông dân chịu bao đắng cay tủi khổ, cố sống cố giữ lại cho mình một chút trong sạch cuối cùng, nhưng rồi tất cả như bị tha hóa, như rơi vào đừng cùng không lối thoát. Một Lão Hạc già nua, chọn cái chết để giữ lại cho con trai mảnh vườn, tài sản cuối cùng lão còn lại sau bao ngày vật lộn với bệnh tật, đói khát. Một Chị Dậu vùng chạy, ngoài trời tối đen như mực, như tiền đồ của chị. Không lối thoát, bế tắc, nhưng đó chỉ là những người nông dân trước cách mạng. Từ khi Đảng Cộng sản thành lập, ngọn cờ Cách mạng được giương cao, người nông dân đã biết đứng lên đi theo Đảng, theo Cách mạng để giải thoát cho mình. Trong tác phẩm Vợ nhặt tuy Kim Lân không tập trung xoáy sâu vào Việt Minh vào đánh Nhật phá kho thóc…nhưng ở cuối tác phẩm ông đã mở ra một tình huống mới… “ Trong óc Tràng vẫn thấy đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới” Kết thúc như mở ra một chân trời mới tươi sáng hơn cho cuộc sống của người nông dân.

Với vốn liếng ngôn ngữ giàu có và đặc sắc, lối viết văn tưởng như dễ dàng mà không dễ phỏng theo, giản dị vô cùng mà sao cứ ánh lên chất hào hoa Kinh Bắc, Kim Lân đã xây dựng một Vợ nhặt sống mãi với thời gian. Chỉ cần thiếu đi một chút tinh tế người ta sẽ dễ dàng bỏ qua một tiếng gắt vô duyên vô cớ, một tiếng khẽ ho,  những bước chân bước vội ra sân, thái độ điềm nhiên và miếng cám vào  trong miệng…

Chỉ một tình huống nhỏ nhoi nhưng Kim Lân đã gợi nên biết bao điều. Mỗi ý nghĩa của tình huống lại mang một giá trị nhân bản, tấm lòng nhân đạo bao la của nhà văn. Vì thế mà tác phẩm như một ngọn lửa nhỏ lấp lánh tình yêu thương nồng ấm và tác phẩm cho ta phát hiện thêm một bản chất tuyệt vời nhân hậu, tuyệt vời đức hi sinh của những người nông dân Việt Nam . Dù đứng trước cảnh một mất một còn của mạng sống vẫn cưu mang, vẫn lấy lại phẩm giá để làm người, để sống với hi vọng, với tương lai. Và cái đọng lại cuối cùng vẫn là cách nhìn đời, nhìn người đầy xót xa và yêu thương của nhà văn, là niềm tin mà dường như ông muốn gửi trọn đến cho chúng ta qua thiên truyện ngắn. Ai đó nói rằng: Hai người cùng cúi xuống một người chỉ thấy vũng nước người kia thấy cả bầu trời đầy sao.

Truyện ngắn là thể loại năng động đã “bấm huyệt” đời sống bằng cách sáng tạo các tình huống nghệ thuật đặc sắc để phản ánh sự đa dạng và phức tạp của đời sống. Có người ví tiểu thuyết như một căn phòng đầy đủ tiện nghi, ấm cúng, còn truyện ngắn như một bức tranh đẹp duy nhất mà người chủ có óc thẩm mỹ biết lựa chọn và bức tranh đó là Thiếu nữ bên hoa huệ hoặc Người đàn bà không quen biết.

Hi! Everybody! Hôm nay đã là 31/05/2011 rùi, vậy là ngày kia chúng ta sẽ bước vào một trong những kì thi quan trọng nhất của cuộc đời học sinh🙂. Công việc ôn tập của mọi người chắc cũng đã sắp sửa hoàn tất. Từ hôm kia, mình đã nhận được rất nhiều tin nhắn từ các mem 12A1 về thông tin những bài “cần thiết” để ôn tập. Hix, cũng đã chuẩn bị sẵn sàng , phao, dù đã đầy đủ :)). Để tiện cho các mem của 12A1 ôn tập mình xin Post lại những gì cần lưu ý:

1. Môn Văn:

+ Văn học Việt Nam:

  • Phân tích tình huống truyện độc đáo trong chuyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân.
  • Giá trị nhân đạo của chuyện ngắn “VỢ NHẶT” của Kim Lân.
  • Phân tích nhân vật “Thị” mà anh cu “Tràng” đã nhặt được trong chuyện ngắn “VỢ NHẶT” của Kim Lân.
  • Phân tích diễn biến tâm trạng bà cụ Tứ trong Vợ nhặt.
  • Chất sử thi của “Rừng xà nu”.
  • Phân tích tình huống truyện “Chiếc thuyền ngoài xa”.
  • Phân tích hình ảnh người đàn bà hàng chài trong “CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA” của Nguyễn Minh Châu.
  • Phân tích hình tượng người lính Tấy tiến trong bài thơ cùng tên của Quang Dũng.

+ Văn học nước ngoài:

  • Tác giả Hê-minh-uê và nguyên lí “Tảng băng trôi”

2. Môn Địa:

  • Trình bày lịch sử phát triển lãnh thổ của Việt Nam trong giai đoạn Tiền Cambri.
  • Biển Đông có ảnh hưởn như thế nào tới khí hậu, địa hình và hệ sinh thái nước ta.
  • Khu vực Tây nguyên, Đông Nam Bộ, Đồng bằng Sông cửu Long